Trang chủ Tài chính Lãi suất tái chiết khấu là gì ? Quy định về lãi suất tái chiết khấu

Lãi suất tái chiết khấu là gì ? Quy định về lãi suất tái chiết khấu

Tác giả: tranthang
Lãi suất tái chiết khấu là gì ? Quy định về lãi suất tái chiết khấu

lãi suất tái chiết khấu là lãi suất tính trên số tiền ghi trên thương phiếu hoặc giấy tờ có giá trước khi đến hạn thanh toán. bài viết phân tích và làm sáng tỏ khái niệm trên, cụ thể:

1.khái niệm lãi suất chiết khấu

lãi suất tái chiết khấu là lãi suất tính trên số tiền ghi trên thương phiếu hoặc giấy tờ có giá trước khi đến hạn thanh toán.

Link bài này:: Lãi suất tái chiết khấu là gì ? Quy định về lãi suất tái chiết khấu

lãi suất tái chiết khấu là giá cả của dịch vụ mua, bán thương phiếu, giấy tờ có giá. mức lãi suất tái chiết khấu phụ thuộc vào khả năng thanh toán của người có nghĩa vụ trả số tiền ghi trên thương phiếu hay giấy tờ có giá. Ở các nước xã hội chủ nghĩa trong cơ chế kinh tế kế hoạch hóa tập trung, do tín dụng thương mại bị xóa bỏ nên không tồn tại thương phiếu và việc chiết khấu, tái chiết khấu trong hệ thống ngân hàng. trong nền kinh tế thị trường, nhà nước thừa nhận việc lưu thông thương phiếu, các giấy tờ có giá nên hệ thống ngân hàng được thực hiện việc chiết khấu, tái chiết khấu. lãi suất tái chiết khấu được áp dụng trong trường hợp ngân hàng nhà nước, tổ chức tín dụng mua lại thương phiếu, giấy tờ có giá.

lãi suất chiết khấu là mức lãi suất do ngân hàng nhà nước áp dụng khi cho vay. tuy nhiên đối tượng cho vay không phải khách hàng mà là các ngân hàng thương mại. Điều này có nghĩa là ngân hàng thương mại khi hoạt động sẽ có trường hợp cần vay tiền từ ngân hàng trung ương. Đó là khi tỷ lệ tiền mặt dự trữ của ngân hàng không thể đảm bảo an toàn. lúc này ngân hàng thương mại sẽ xem xét vay tiền tránh xảy ra tình huống khách hàng rút tiền.

ngoài ra bạn cũng có thể hiểu đơn giản lãi chiết khấu là một công cụ trong chính sách tiền tệ và căn cứ quan trọng với cả ngân hàng nhà nước và ngân hàng thương mại.

cụ thể bạn có thể hiểu đó là mức lãi suất do ngân hàng nhà nước áp dụng khi cho vay. tuy nhiên đối tượng cho vay không phải khách hàng cá nhân hay doanh nghiệp mà là các ngân hàng thương mại. có nghĩa là ngân hàng thương mại khi hoạt động sẽ có trường hợp cần vay tiền từ ngân hàng trung ương. Đó là khi tỷ lệ tiền mặt dự trữ của ngân hàng không thể đảm bảo an toàn và các ngân hàng thương mại sẽ xem xét vay tiền tránh xảy ra tình huống khách hàng rút tiền.

ngoài ra bạn cũng có thể hiểu đơn giản lãi chiết khấu là một công cụ trong chính sách tiền tệ. nó là căn cứ quan trọng với cả ngân hàng nhà nước và ngân hàng thương mại.

theo đó, khái niệm lãi suất chiết khấu là một trong những nội dung trọng tâm và được định nghĩa tại khoản 11 Điều 3 thông tư 150/2011/tt-btc. cụ thể như sau: “lãi suất chiết khấu” là tỷ lệ phần trăm (%) lãi hàng năm, được dùng làm căn cứ để xác định giá trái phiếu bị hoán đổi, giá trái phiếu được hoán đổi và tỷ lệ hoán đổi giữa trái phiếu bị hoán đổi và trái phiếu được hoán đổi”.

2. công thức tính lãi suất chiết khấu

lãi suất chiết khấu có thể tính bằng:

+ chi phí huy động vốn (funding cost)

+ trung bình trọng số chi phí vốn (weighted average cost of capital, wacc).

2.1 chi phí huy động vốn

lãi suất chiết khấu có thể được tính bằng chi phí gọi vốn. Đây là tỷ lệ lợi tức người bỏ vốn mong muốn thu lại từ dự án. nói cách khác, lãi suất chiết khấu là chi phí sử dụng vốn, hay chi phí cơ hội của vốn.

ví dụ: nếu rút tiền tiết kiệm với lãi suất 5% để đầu tư thì có thể tính lãi suất chiết khấu là 5%.

Bài viết cho bạn:: ROE là gì? Cách tính và ứng dụng HIỆU QUẢ NHẤT

2.2 trung bình trọng số chi phí vốn

wacc = chi phí sử dụng vốn trung bình của doanh nghiệp.

doanh nghiệp có 2 nguồn gọi vốn chính:

  • vay thương mại => chi phí của khoản nợ (cost of debt) là lãi suất của khoản vay (1-tax)*lãi suất; và,
  • vốn góp cổ đông => chi phí vốn cổ phần (cost of equity) là thu nhập mong muốn của cổ đông.

wacc có thể tính bằng chi phí sử dụng trung bình của hai nguồn vốn trên.

wacc = re * e/(e+d) + rd(1-tc)* d/(e+d)

trong đó:

  • re: tỷ suất thu nhập mong muốn của cổ đông
  • rd: lãi suất mong muốn của chủ nợ
  • e: giá thị trường cổ phần của công ty
  • d: giá thị trường nợ của công ty
  • tc: thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp

re = [div0(1+g)/p0] + g

trong đó:

  • p0 là giá cổ phiếu của doanh nghiệp tại thời điểm gốc
  • div0 là cổ tức của cổ phiếu doanh nghiệp tại thời điểm gốc
  • g: tỷ lệ tăng trưởng dự kiến của cổ tức.

3. mô tả nghiệp vụ

khi không đủ dự trữ bắt buộc, ngân hàng thương mại phải vay tiền của ngân hàng trung ương. tình huống này có thể xảy ra bởi vì ngân hàng đã cho vay quá nhiều hoặc bởi vì có quá nhiều các khoản tiền được rút ra. khi ngân hàng trung ương cho một ngân hàng vay tiền, hệ thống ngân hàng sẽ có nhiều dự trữ hơn và họ có thể tạo ra nhiều tiền hơn.

ngân hàng trung ương có thể thay đổi cung ứng tiền tệ bằng cách thay đổi lãi suất chiết khấu. lãi suất chiết khấu càng cao, các ngân hàng càng ít vay tiền của ngân hàng trung ương đề bù đắp dự trữ.

Đồng thời, để có thể đáp ứng được nhu cầu rút tiền của khách hàng trong khi ít vay tiền hơn từ ngân hàng trung ương, các ngân hàng thương mại có xu hướng tăng tỷ lệ dự trữ và làm giảm số nhân tiền. bởi vậy, biện pháp tăng lãi suất chiết khấu có xu hướng làm giảm cơ sở tiền và số nhân tiền, dẫn đến cung ứng tiền tệ giảm.

ngược lại, biện pháp giảm lãi suất chiết khấu sẽ khuyến khích các ngân hàng vay nhiều tiền hơn từ ngân hàng trung ương và dự trữ với tỉ lệ thấp hơn, dẫn tới cơ sở tiền và số nhân tiền tăng và cung ứng tiền tệ tăng.

4. những yếu tố ảnh hưởng đến lãi suất chiết khấu

có rất nhiều nhân tố ảnh hưởng đến lãi suất chiết khấu, cụ thể như sau:

4.1 mức cung cầu về tiền tệ trên thị trường

một trong những yếu tố cơ bản có ảnh hưởng trực tiếp đến việc hình thành lãi suất tái chiết khấu trên thị trường chính là mức cung cầu về tiền tệ.

4.2 lạm phát

lạm phát cũng gây ảnh hưởng không nhỏ đến tình hình tài chính nói chung và lãi suất tái chiết khấu nói riêng.

4.3 chính sách tiền tệ của chính phủ

nếu lãi suất tăng cao hoặc giảm xuống thấp sẽ gây ảnh hưởng nhất định đến nền kinh tế. do đó, nhà nước sẽ thực hiện các chính sách nhằm điều chỉnh lãi suất,
bất biến nền kinh tế.

lãi suất tăng sẽ làm cho nhu cầu tiêu dùng và đầu tư giảm, khi đó, ngân hàng nhà nước sẽ tiến hành giảm lãi suất tái chiết khấu cho các ngân hàng thương mại

ngược lại, khi lãi suất giảm, ngân hàng nhà nước sẽ tăng lãi suất tái chiết khấu để giảm bớt khối lượng tín dụng cho các ngân hàng thương mại. từ đó, các ngân hàng thương mại bắt buộc phải tăng lãi suất tín dụng đối với các thành phần trong nền kinh tế.

4.4 rủi ro kỳ hạn tín dụng

bên cạnh đó, lãi suất tái chiết khấu còn chịu sự ảnh hưởng của nhiều nhân tố khác như các thể chế tài chính trung gian, sự ổn định về tình hình kinh tế – chính trị, tỷ giá hối đoái, tình hình cân đối ngân sách, tình hình tài chính quốc tế và các chính sách tài khoá của nhà nước,…

5. những tác động của lãi suất chiết khấu

các ngân hàng thương mại phải tính toán tỷ lệ giữa tiền mặt và các khoản tiền gửi (dự trữ của ngân hàng) để đáp ứng nhu cầu của khách hàng và họ có một tỷ lệ giữa tiền mặt và tiền gửi an toàn tối thiểu.

tỷ lệ này ngoài quy định của ngân hàng trung ương về tỷ lệ dự trữ bắt buộc còn phụ thuộc vào tình hình kinh doanh của ngân hàng thương mại và dự trữ của ngân hàng thường lớn hơn dự trữ bắt buộc do ngân hàng trung ương quy định.

Bài viết cho bạn:: Quy đổi: 1 Bảng Anh (GBP) bằng bao nhiêu tiền Việt Nam (VNĐ)?

khi tỷ lệ dự trữ tiền mặt thực tế của ngân hàng thương mại giảm xuống đến gần tỷ lệ an toàn tối thiểu thì họ sẽ phải cân nhắc việc có tiếp tục cho vay hay không vì lúc này họ buộc phải tính toán giữa số tiền thu được từ việc cho vay với các chi phí liên quan trong trường hợp khách hàng có nhu cầu tiền mặt cao bất thường.

các tác động này được mô tả cụ thể như sau:

5.1 tác động của lãi suất chiết khấu đối với ngân hàng thương mại

mức lãi chiết khấu do ngân hàng trung ương quy định mang đến những tác động lớn. theo đó đầu tiên với các ngân hàng thương mại thì nó chính là căn cứ quan trọng. hơn hết các ngân hàng luôn theo dõi, cập nhật sát sao mức lãi chiết khấu.

chính xác hơn lãi chiết khấu ảnh hưởng trực tiếp đến tỷ lệ dự trữ tiền mặt từ các ngân hàng. nó là căn cứ giúp các ngân hàng thương mại quyết định giảm hay tăng tỷ lệ dự trữ.

cụ thể các ngân hàng thương mại luôn so sánh lãi chiết khấu với lãi thị trường. nếu trường hợp lãi chiết khấu cao hơn thì ngân hàng sẽ không thể để tỷ lệ tiền dự trữ quá thấp. nhất là ngân hàng tránh tỷ lệ tiền dự trữ chạm mốc an toàn. Đặc biệt ngân hàng còn có xu hướng tăng tỷ lệ dự trữ để đảm bảo không xảy ra rủi ro khi khách hàng rút tiền.

ngược lại nếu lãi chiết khấu bằng hay thấp hơn thì ngân hàng sẽ có thể thoải mái cho vay. chỉ cần dừng lại ở mức tỷ lệ an toàn tối thiểu là được. Đơn giản bởi lúc này nếu thiếu tiền mặt ngân hàng hoàn toàn có thể vay từ ngân hàng nhà nước. mức lãi suất ngân hàng được hưởng sẽ không gây ra những rủi ro.

5.2 tác động của lãi suất chiết khấu đối với ngân hàng trung ương

lãi chiết khấu tác động đến các ngân hàng thương mại là điều dĩ nhiên. tuy nhiên quan trọng hơn nó chính là công cụ đắc lực của ngân hàng nhà nước và có những tác động nhất định đối với ngân hàng trung ương.

hiểu một cách chính xác thì ngân hàng trung ương sẽ quy định lãi chiết khấu để điều tiết cung tiền. theo đó nếu như ngân hàng muốn tăng lượng cung tiền thì sẽ giảm lãi suất cho vay. và ngược lại cho ngân hàng muốn giảm lượng cung tiền thì sẽ tăng lãi chiết khấu. Đơn giản bởi khi lãi chiết khấu tăng thì ngân hàng thương mại sẽ giảm cho vay.

ngân hàng trung ương sử dụng hình thức cho vay chiết khấu không chỉ để kiểm soát cung ứng tiền tệ, mà thông qua đó còn giúp đỡ các tổ chức tài chính khi họ rơi vào tình thế khó khăn.

ví dụ: vào năm 2005, mọi người đồn rằng ngân hàng cổ phần phương nam có rất nhiều khoản nợ khó đòi và rất nhiều người gửi tiền đã rút tiền ra. Để cứu ngân hàng này, ngân hàng nhà nước việt nam đã hoạt động với tư cách người cho vay cuối cùng.

do vậy, với một tiền cơ sở nhất định, bằng cách quy định lãi suất chiết khấu cao hơn lãi suất thị trường, ngân hàng trung ương có thể buộc các ngân hàng thương mại phải dự trữ tiền mặt bổ sung khiến cho số nhân tiền tệ giảm xuống (vì tỉ số của tiền gửi so với tiền mặt giảm) để làm giảm lượng cung tiền.

ngược lại, khi lãi suất chiết khấu giảm xuống thì các ngân hàng thương mại có thể giảm tỷ lệ dự trữ tiền mặt và do vậy số nhân tiền tệ tăng lên dẫn đến tăng lượng cung tiền.

ngoài ra, nếu còn vấn đề vướng mắc hoặc băn khoăn về những nội dung trên quý khách hàng có thể liên hệ tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến 0972219297 để được giải đáp thêm.

trân trọng./

bộ phận tư vấn pháp luật dân sự – công ty luật minh khuê

Trang chủ:: https://tapchixuyenviet.com
Chuyên mục:: Tài chính

Bài viết liên quan

Tham gia bình luận